HANBOK – TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG HÀN QUỐC

0
712

HANBOK – TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG HÀN QUỐC

Trang phục truyền thống của người Hàn Quốc

Trang phục là một trong ba yêu cầu của đời sống vật chất (ăn, mặc, ở) đây là sản phẩm văn hoá sớm nhất của xã hội loài người. Theo thời gian, trang phục cũng thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử và là một trong những nét đặc trưng mang đậm cá tính, phẩm chất, tinh hoa của dân tộc đó, để khi nhìn cách ăn mặc của họ chúng ta có thể dễ dàng biết được họ thuộc quốc gia nào. Trang phục không chỉ đơn thuần là đồ để mặc mà nó còn thể hiện cá tính của người mặc: dịu dàng, nhẹ nhàng hay thích sự phá cách, mạnh mẽ. Trang phục khi đứng bên cạnh truyền thống được nâng lên một tầm cao mới. Trang phục truyền thống ở đây có thể hiểu một cách khái quát là trang phục để mặc nhưng chứa đựng bên trong đó là tinh thần dân tộc, linh hồn đất nước, cùng bao nét đẹp tâm hồn của người dân đất nước đó. Bộ trang phục truyền thống mang đậm giá trị thiêng liêng, cao quý đã được đúc kết qua bao biến động thăng trầm của lịch sử. Vì thế có thể gọi trang phục truyền thống là quốc phục-biểu tượng trang phục của một quốc gia.

12

Hàn Quốc là một đất nước phát triển. Ở thành thị, hầu hết người Hàn Quốc đều ăn mặc theo thời trang hiện đại của phương Tây. Những người lớn tuổi, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, vẫn còn ăn mặc quần áo truyền thống. Trang phục truyền thống của người Hàn Quốc được gọi là Hanbok. Hanbok được làm để phù hợp với lối sống sinh hoạt của người Hàn Quốc nhưng có thể coi đó là một biểu trưng cho văn hoá Hàn Quốc. Hanbok được tạo nên bởi các đường sọc thẳng được tạo hình rất đẹp đẽ, không những thế còn che lấp được những khuyết điểm của thể hình.

Hanbok dành cho nam giới bao gồm baji (cái quần), áo khoác hoặc vest tay ngắn và turumagi (áo khoác ngắn). Hanbok của nữ bao gồm ch’ima (váy) và Jeogori (áo khoác ngắn). Sự cấu thành nên một bộ Hanbok cũng có nhiều yếu tố, đó là yếu tố lịch sử, yếu tố tự nhiên, yếu tố tôn giáo và yếu tố con người.

Một bộ Hanbok điển hình được may bằng vải trắng và thật rộng để được thoải mái và mát mẻ. Bộ hanbok có thể mặc trong nhà rất thuận tiện. Với những người quen mặc Hanbok hàng ngày, loại vải được chọn để may thường là vải bông hay vải lanh. Lụa là loại vải vóc của hoàng gia, chỉ được sử dụng trong những ngày có lễ hội đặc biệt. Quần áo mặc vào ngày lễ được trang trí thêm những đường viền đầy màu sắc ở tay áo của trẻ con và phụ nữ.

Chẳng có gì khác thường khi ta thấy những cụ bà và cụ ông ở nông thôn mặc trang phục truyền thống, cứ như họ vừa mới bước ra từ một bức ảnh chụp từ rất nhiều năm trước đây. Một người đàn ông lớn tuổi điển hình thường có những cái cúc áo được làm bằng hổ phách treo lủng lẳng trên áo, chân đi ủng cao su nhọn đầu mũi cong lên và đội một cái mũ cao gọi là satkat đan từ lông bờm hoặc lông đuôi ngựa. Bên dưới chiếc nón dường như trong suốt đó những người lớn tuổi thường để những bím tóc dài, quấn lại trên đỉnh đầu của họ. Đó là trang phục ngày xưa còn ngày nay người Hàn mặc những bộ Hanbok đơn giản hơn ở những phụ kiện nhưng lại cầu kì ở những đường thêu. Phụ nữ không còn đội Cheomo (Một loại nón gần giống với nón quai thao của người con gái Việt, nhưng chủ yếu được dùng che mặt) cũng như đeo dây tòn ten nữa, còn đàn ông cũng không đội mũ Katsat nữa. Hanbok của nữ ngày nay càng độc đáo ở những đường thêu ở vạt áo, tay áo và cổ áo. Người ta thêu lên đó đủ các hoa văn cũng như hình các con vật quý. Càng ngày sự thay đổi về kiểu dáng, màu sắc, chất liệu vải càng phù hợp với người mặc. Nhưng do sự phát triển của công nghiệp hoá, người Hàn không còn nhiều thời gian để mặc những bộ Hanbok cầu kì và nó cũng không phù hợp với môi trưòng làm việc hiện đại nữa. Ngày nay, Hanbok tuy được may bằng những chất liệu vải đẹp, độc đáo và khá đắt nhưng hầu chỉ được người Hàn mặc khi có lễ hội hoặc vào những ngày đặc biệt. Hanbok được truyền tụng từ đời này sang đời khác và được gìn giữ qua năm tháng. Nó thể hiện niềm tự hào của dân tộc, đất nước Hàn Quốc.

  1. Lịch sử ra đời và phát triển của Hanbok
  • Lịch sử ra đời của Hanbok

Theo truyền thuyết, năm 2333 trước công nguyên, một á thần tên là Tan-gun lập nên một vương quốc gọi là Choson trên bán đảo Hàn Quốc. Người Hàn Quốc coi đó là năm lập quốc của mình. Trong hơn 4000 năm kể từ đó, dân tộc Hàn là một mẫu mực về sự kiên trì trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống nhưng vẫn thích ứng nhanh chóng và tài tình với những biến đổi không ngừng của hoàn cảnh sống. Hanbok qua thời gian cũng có nhiều cải tiến liên tục cho phù hợp với khí hậu và điều kiện sinh hoạt trong từng thời kì lịch sử.

Mặc dù có một vài chi tiết của áo Hanbok ngày nay được xuất hiện từ thời xa xưa song kiểu áo hai bộ phận (áo và váy hoặc quần) như ngày nay mới chỉ bắt đầu có từ thời Tam quốc (năm 57 trước công nguyên – năm 668 sau công nguyên) khi các vương quốc koguryo, paekche và shilla thống trị bán đảo Triều Tiên. Điều này đã được thể hiện rõ ràng trên các bức tường đá tại các khu lăng mộ ở Susani; Ssangyeong-chong thời Kugogyo từ thế kỷ IV đến thế kỷ VI. Qua nhiều khảo nghiệm, các nhà văn hoá đã rút ra những nét chung trong trang phục trên nhiều bức hoạ đó. Phụ nữ mặc váy có nhiều màu sắc sặc sỡ, áo dài qua hông, vạt bên phải áo gấp sang phía bên trái, cổ và đường viền tay áo có hoa văn sắc sảo. Đặc biệt cũng ở thời kỳ này có giai đoạn phụ nữ còn mặc thêm một chiếc quần dài bên trong váy và một áo khoác bên ngoài. Nam giới thì mặc áo dài quá hông, tay dài và quần dài, trang phục cũng được trang trí với nhiều hoa văn. Ngoài ra cả nam giới và nữ giới đều đi giày theo kiểu giày ống bây giờ. Kiểu mẫu như thế có thể do ảnh hưởng của khí hậu và địa hình khắc nghiệt phương Bắc cùng cuộc sống du mục với trung tâm là lưng ngựa tạo nên. Hơn nữa, theo các nhân tố địa lý và văn hoá, trang phục này còn chịu nhiều ảnh hưởng của kiểu áo Trung Quốc. Tại vương quốc Paekche và Shilla cùng thời đều có kiểu trang phục tương tự nhau. Phục chế theo các bức tường đất được tìm thấy trong các ngôi mộ cổ cho thấy thời kì này phụ nữ mặc Jeogori có tay hẹp, váy nhiều nếp gấp, có nơ buộc thắt lại ở ngực. Sau đó, áo choàng lụa kiểu Trung Quốc du nhập vào Triều Tiên từ nước láng giềng này, dần dần được giới quý tộc và thượng lưu chấp nhận từ năm 648 thời Shilla – vương quốc đã thống nhất bán đảo từ tam quốc thành một quốc gia thống nhất năm 668 (với kinh đô là kyongju). Áo choàng này được mặc bên ngoài bộ y phục truyền thống dân tộc. Phụ nữ quý tộc bắt đầu mặc quần – váy dài kín người, áo choàng tay dài, được thắt lại bằng ruy băng ở eo. Còn đàn ông mặc quần ống rộng, hẹp ở mắt cá chân và một áo choàng bó ở cổ tay và thắt ở eo. Như vậy, cấu thành một bộ Hanbok nữ thời kỳ này gồm có: váy dài kín người bên trong (Ch’ima), áo khoác ngắn (Jeogori) có một dải ruy băng thắt nơ ở ngực phía bên trái và áo choàng ( P’o ) mặc bên ngoài trông rất thanh lịch. Còn đàn ông mặc Magoja (áo trên) và Joggi (áo và quần dài rộng rãi, đồng bộ, mặc bên trong) với áo khoác ngắn Jeogori.

  • Sự phát triển của Hanbok.

Hanbok mà chúng ta biết tới ngày nay là kết quả của sự biến đổi, cải tiến ở nhiều thời kì. Năm 935, Shilla suy tàn và được thay thế bằng vương triều mới – Koryo (thủ đô là Keasong), cũng bắt đầu từ đây, cái tên Hàn Quốc (Korea) ra đời. Đạo Phật, đạo mà thời Shilla coi là tôn giáo dân tộc tiếp tục phát triển cùng với nghề in và nhiều môn nghệ thuật khác. Trong suốt triều đại Koryo, chi’ma được cải biến cho ngắn đi, cao hơn cả eo, lại ôm khít ngực. Chogori cũng ngắn hơn và tay thì hơi cong một chút. Cùng thời gian này, phụ nữ bắt đầu tết tóc vấn thành búi trên đầu, đàn ông thì cạo trọc đầu chỉ để lại một chỏm tóc. Năm 1392, triều đại Choson bắt đầu. Triều đại này do Yi-song-gye (tên huý của vua Taejo) _ một vị tướng cũ của triều Koryo dựng nên. Yi-song-gye đã dời đô từ Keasong nơi ảnh hưởng của Phật giáo còn mạnh về Seoul năm 1394. Kể từ đây Khổng giáo đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống và được coi là quốc đạo. Chính những nghi lễ, phong tục tập quán theo đạo Khổng đã quy định kiểu áo mà tầng lớp quý tộc, thành viên hoàng tộc, giới thượng lưu, dân thường phải mặc trong các dịp lễ hội, cưới hỏi, ma chay. Trong thời đại này, sự kiên định, trung thực của nam giới, sự trinh tiết của phụ nữ đã trở thành chuẩn mực đạo đức trong xã hội và được phản ánh trong trang phục Hàn Quốc. Hanbok của nam giới về cơ bản không thay đổi. Nhưng y phục nữ giới lại có sự thay đổi lớn. Vào thế kỷ XV, phụ nữ bắt đầu mặc váy dài, xếp li và Chogori dài để hoàn toàn che khuất những đường nét cơ thể. Dù vậy, theo thời gian, do yêu cầu của cuộc sống, Chogori ngày càng trở nên ngắn hơn cho đến khi nó chỉ còn che vừa hết ngực, kiểu dáng này cho đến ngày nay vẫn còn được duy trì. Do nhịp sống sinh hoạt bận rộn của thời hiện đại Hanbok trở nên gây bất tiện cho người mặc. Vì thế, Hanbok đang ngày càng được cải tiến cho đơn giản, phù hợp để trở thành trang phục trong cuộc sống hàng ngày của người Hàn Quốc. Không giống như trước đây, phụ nữ Hàn Quốc thường bỏ ra rất nhiều thời gian để làm những ruy băng buộc tóc đầy các hình trang trí, làm norigae (Norigae là những tua tòn ten buộc dưới nơ áo của áo vét, có một đồ trang trí giống như hình khắc của viên ngọc hay một con dao nhỏ bằng bạc có một cái vòng ở trên và một quả tua dài bằng lụa) giày vải thêu mũi cong… Về cơ bản, các “phụ tùng” chủ yếu vẫn là mũ đội đầu, khăn quấn, trâm cài đầu, chủng loại giầy dép có những đôi hài được thêu hoa trên nền lụa, giầy làm bằng da, khi trời mưa thì có guốc gỗ, và cả giầy dép làm bằng rơm vài đồ trang sức. Giống như áo dài của Việt Nam, Hanbok cũng không có túi nên người ta phải mang theo túi hoặc ví lụa, khăn tay. Hiện nay, tất cả những thứ “phụ tùng” của Hanbok cải tiến rộng, thoải mái và dễ giữ gìn. Vì thế người Hàn Quốc ngày nay, đặc biệt là nam giới mặc trang phục truyền thống này khi họ đi làm về .

  1. Nét đặc trưng của Hanbok
  • Phân loại Hanbok

Khác với áo dài, chiếc áo truyền thống Hàn Quốc phức tạp hơn nhiều. Hanbok được may đo bằng các loại vải và màu sắc khác nhau tuỳ theo địa vị xã hội, theo hoàn cảnh và theo tuổi của người mặc. Những tiêu chí này cũng khác nhau tuỳ theo thời đại nữa. Vì thế khi phân loại Hanbok có thể chia theo thời đại để nói sẽ đủ hơn. Trong thời đại tôn sùng đạo Khổng (Thời Choson 1392-1910). Đây là thời kì mà sự phân biệt đẳng cấp hết sức khắt khe. Người nam đã mang chức tước, phẩm hàm, được mặc Hanbok dài, có dải đeo, đội mũ vành lông đuôi ngựa, áo màu theo phẩm tước, đi giày ủng. Người nữ tầng lớp lao động chỉ được phép mặc Hanbok hẹp, vải mộc với những quy định hết sức kì quặc chỉ nhằm mục đích để mọi người dễ nhận biết qua y phục một hạng người đã bị tước bỏ mọi quyền tối thiểu của con người. Yangban, một tầng lớp thượng lưu theo kiểu cha truyền con nối, dựa trên học vị và quyền hành hơn là của cải thì mặc áo Hanbok màu sáng may bằng vải lụa in hoa hoặc lụa trơn trong thời tiết lạnh và loại vải xếp nếp hoặc những loại vải cao cấp là những chất liệu nhẹ trong thời tiết ấm áp. Trong khi đó thường dân lại bị pháp luật giới hạn (và cũng do tình hình tài chính không cho phép) phải mang áo bằng vải gai trắng và chỉ được mặc màu trắng, chỉ trong trường hợp đặc biệt mới có thể mặc màu hồng nhạt, xanh nhạt, xám hay đen sẫm. Phụ nữ Yangban mặc váy quấn rộng 12 P’ok (đơn vị độ dài của Hàn Quốc) và gấp vạt về phía bên trái trong khi thường dân bị cấm mặc Ch’ima có độ rộng hơn 10 P’ok hoặc 11 P’ok, còn vạt bắt buộc phải gấp về bên phải. Để một bộ Hanbok thêm hoàn chỉnh, người ta còn tìm tới những phụ kiện đi kèm. Phụ nữ hay đội Cheomo, dân lao động Hàn Quốc thì đội dorongi (một loại nón cứng) và bangkat (nón lá) để che mưa nắng khi làm việc ngoài đồng. Những phụ nữ quý tộc thời Choson thường bỏ ra rất nhiều thời gian thêu những ruy băng buộc tóc đầy những hình trang trí, những túi hay ví bằng lụa (pokjumoni) và norigae. Trang phục phụ của đàn ông phần lớn gồm mũ bằng lông ngựa cứng (katsat thịnh hành từ thời Shilla cho tới đầu thế kỉ này) và một dây lụa dài buộc quanh ngực. Vào những ngày lễ lớn chỉ những người trong hoàng tộc hay những người có địa vị xã hội mới được mặc Hanbok đậm màu và kèm nhiều phụ kiện. Còn người dân, những người không có địa vị và nghèo khó chỉ được mặc những gam màu nhạt và không có phụ kiện cầu kì đi kèm. Sự phân biệt màu sắc giữa người có tuổi và người trẻ trong hoàng tộc mới rõ ràng còn trong người dân thì hầu như không có, bởi vì quanh năm họ chỉ mặc những bộ Hanbok màu trắng hoặc màu nhạt.

Còn trong thời đại ngày nay sự phân biệt hoàng tộc và thường dân không còn tồn tại nữa, cũng như không còn sự khinh miệt giữa người giàu và người nghèo. Do đó việc mặc trang phục như thế nào không còn là quy định khắt khe nữa. Hanbok lúc này cũng có sự thay đổi. Phụ nữ bắt đầu mặc váy dài, xếp li và Jeogori ngắn chỉ vừa đủ che hết ngực. Những phụ kiện đi kèm cũng đơn giản hơn và không còn phải tự làm nữa mà có thể mua ở chợ. Hanbok của nam giới cũng có sự thay đổi. Áo cũng ngắn hơn chỉ vừa đủ dài hơn một chiếc áo sơ mi. Họ cũng không còn đội những chiếc mũ cứng vành lông đuôi ngựa nữa. Người Hàn ngày nay ưa mặc trang phục phương Tây. Trang phục châu Âu thâm nhập vào Hàn Quốc từ thời kì chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Trong thời kì công nghiệp hoá những năm 1960, 1970 người ta coi Hanbok không còn phù hợp như trước nữa. Tuy nhiên, Hanbok đã được cải tiến cho đơn giản, phù hợp để trở thành trang phục trong cuộc sống hàng ngày của người Hàn Quốc.

Vào những ngày lễ lớn người Hàn Quốc vẫn ưa mặc những bộ Hanbok truyền thống chưa bị cách tân quá nhiều. Hôn lễ phục và tang phục được coi là lễ phục. Trang phục mặc trong ngày cưới là những bộ Hanbok thiết kế trang trọng và rực rỡ. Tang phục có hình thức đơn giản, chỉ là bộ đồ xô gai để tỏ lòng thương tiếc người đã khuất. Vào ngày tết nguyên đán, tết trung thu hay vào các ngày lễ lớn, người Hàn Quốc mặc những bộ Hanbok đẹp nhất của mình, màu sắc rực rỡ tươi vui. Căn cứ vào màu sắc, biểu tượng của váy áo người ta còn đoán biết được lứa tuổi, ước mong của người mặc. Chẳng hạn, người phụ nữ trung tuổi mặc sơ mi xanh chuối và chân váy vàng hoặc màu xanh lá cây sáng. Phụ nữ lớn tuổi hơn mặc áo màu xanh chuối nhạt hoặc màu xám sáng với chân váy màu xanh lá sẫm… để thể hiện ước muốn sống lâu. Còn phụ nữ kết hôn, nếu mặc váy hồng là ước muốn sinh con gái, màu tím là: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ là mong ước có cuộc sống vợ chồng hoà hợp. Các cô gài trẻ thì mặc váy màu đỏ và áo khoác màu vàng với ống tay áo kẻ sọc nhiều màu. Khi đính hôn mặc màu hồng, kết hôn mặc váy cưới, sau tuần trăng mật mặc váy đỏ và áo xanh để chào bố mẹ chồng. Vào những dịp khác, họ có thể mặc Hanbok với đủ màu sắc và chất liệu, bao gồm lụa thêu, vẽ hoặc mạ vàng. Hanbok được may bằng gấm lụa hay satanh cho mùa đông, bằng lụa mỏng khi thời tiết ấm áp và bằng vải sợi bông dệt bằng tay, hồ nhẹ cho mùa hè.
Có thể nói rằng sự đa dạng của Hanbok là một nét độc đáo. Sự khác nhau giữa Hanbok của vua quan và người dân thường, giữa người giàu và người nghèo, Hanbok mặc vào dịp tết, đám cưới, đám tang hay ngày thường đều có những ý nghĩa riêng. Việc phân loại Hanbok chỉ là một cách giới thiệu sự đa dạng của Hanbok, còn vẻ đẹp thực sự của nó ẩn chứa bên trong chính linh hồn dân tộc của nó.

  • Cách mặc Hanbok

Mỗi một loại trang phục truyền thống đều có một cách mặc riêng khác nhau. Áo dài của Việt Nam, Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc cũng vậy. Tôi nghĩ rằng cách mặc Hanbok cũng giống như nét đẹp của Hanbok đều từ con người mà ra cả. Trong phần này tôi trình bày cách mặc hanbok của người Hàn Quốc. Tuy nói về cách mặc hanbok nhưng nó không chỉ có thế, ẩn sâu bên trong nó còn thể hiện tính cách và tâm hồn người mặc nó. Theo giới tính mà có cách mặc hanbok khác nhau.

Cách mặc hanbok của nam giới:

3

Hanbok dành cho nam giới gồm có quần dài, áo ngắn, áo vét hoặc áo khoác tay ngắn. Đặc điểm của từng loại như sau: áo ngắn tới hông, tay dài, có hai sợi dây buộc hai tà áo lại phía bên trái. Quần của Hanbok thường có ống rộng để suông, do đó người ta dùng một sợi dây để bó ống cho gọn gàng. Bên ngoài hanbok có thể mặc một chiếc áo vét kiểu phương Tây hoặc là một chiếc áo khoác (hay còn gọi là áo choàng) có tay ngắn. Chiếc áo này về kiểu dáng khá giống với áo ngắn mặc bên trong nhưng có màu sắc khác đi mà thôi.

Thứ tự mặc hanbok như sau:

Ban đầu người nam mặc áo ngắn trước, áo này thường có màu giống với màu quần. Áo không có cúc như của Việt Nam mà được cột lại với nhau bằng hai sợi dây, cổ áo hình chữ V ôm sát. Tiếp đó là mặc quần, do đặc điểm của quần mà người ta phải bó ống của chúng lại. Cách bó ống được coi là một bước quan trọng và dường như là khó nhất khi mặc Hanbok. Trước khi bó ống người ta đi một đôi tất trắng dài, khá dầy trông giống như một chiếc giày. Khi làm vậy họ phải ngồi chứ đứng không làm được. Phương pháp buộc ống quần gồm có 4 bước:

Bước 1: Dùng tay giữ lấy một đầu kia của ống quần kéo ra làm sao cho nó không bị nhăn lại.
Bước 2: Từ từ lấy tay gập ống quần theo góc cạnh của nó tiếp giáp với chân từ phải qua trái thành một vòng tròn nhỏ.

Bước 3: Dùng một sợi dây quấn quanh cổ chân, buộc chặt vòng tròn vừa quấn được không cho nó tuột ra là được.

Bước 4: Dùng hai tay thắt chặt sợi dây lại và buộc ở mắt cá chân.

Như vậy là hoàn thành xong bước quan trọng nhất và người nam có thể khoác một chiếc áo vét hoặc áo khoác là có thể diện bộ Hanbok ở bất cứ nơi đâu. Tuy có vẻ là đơn giản nhưng nếu làm không đúng cách nó sẽ không được như vậy đâu, thậm chí người ta có thể đánh giá một người nam tính cách như thế nào qua việc mặc hanbok, đặc biệt là ở cách buộc túm ống quần lại.

Cách mặc hanbok của nữ:

4

Nếu như cách mặc Hanbok của nam quan trọng ở chỗ thắt ống quần ở eo chân, thì bước quan trọng của Hanbok nữ chính là việc thắt hai dây của chiếc áo thành một cái nơ. Nơ áo phải cân đối và có độ lệch vừa phải. Nếu như làm đúng cách chiếc nơ áo còn là điểm nhấn cho bộ Hanbok. Một bộ hanbok nữ bao gồm: váy dài, áo ngắn, áo khoác bên ngoài. Ngày trước người phụ nữ thường mặc một bộ đồ lót bên trong trước khi mặc Hanbok, nhưng ngày nay thì ít người còn mặc như vậy nữa. Y phục bên trong gồm quần lót trong, váy lót, sokjoksam, áo lót trong. Váy lót bên trong mặc hơi ngắn hơn váy ngoài một chút, áo trong cũng làm bắng vải mỏng và màu nhạt được làm ngắn hơn áo ngoài một chút.

Sở dĩ họ mặc một bộ đồ mỏng bên trong như vậy một phần là để giữ dáng áo cho Hanbok, nhưng nguyên nhân sâu sa là do Hanbok là một tác phẩm văn hoá chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Khổng, đề cao sự kín đáo, tôn ty của người phụ nữ. Tiếp đó người Hàn mặc một chiếc váy (Ch’ima) bên ngoài bộ quần áo lót bên trong. Đặc điểm của chiếc váy này là cao tới tận ngực, chân váy dài sát gót chân, váy rộng. Bên ngoài người Hàn mặc một chiếc áo ngắn gọi là jeogori. Jeogori có hai dải lụa dài buộc chặt vào nhau tạo thành cái nơ, nơ có độ lệch vừa phải là đẹp. Jeogori thời Choson dài qua hông nhưng jeogori ngày nay được cải tiến chỉ còn ngắn tới ngực và ôm khít ngực, vạt áo bên phải gấp sang bên trái, cổ và đường viền tay áo thêu hoa văn. Những đường hoa văn này cũng rất phong phú, có khi là những đường hoa mềm mại ở tay áo, có khi là năm đường viền tượng trưng cho kim, thuỷ, hoả, thổ, mộc ở ống tay áo….Đây là một nét đặc trưng ảnh hưởng của Khổng giáo. Ngoài ra ảnh hưởng của đạo Khổng còn trong cách người mặc ngồi thế nào cho đúng. Phụ nữ mặc Hanbok khi ngồi co chân phải gập ra sau, còn chân trái vắt lên phía trước, gập đầu gối giống như hình chữ ngũ, khác với đàn ông có thể khoanh tròn một cách thoải mái. Như vậy một bộ hanbok nữ mặc đúng cách sẽ có 4 bước sau:

Bước 1: Mặc một bộ đồ lót mỏng bên trong hoặc mặc áo lót bên trong sao cho vừa với bộ hanbok.

Bước 2: Mặc váy dài (Ch’ima), chỉnh váy sao cho cân với ngực.

Bước 3: Mặc áo khoác ngắn ra bên ngoài Ch’ima, kéo vạt bên phải vào trong, vạt bên trái cho ra ngoài.
Bước 4: Thắt nơ cho hanbok. Chiếc nơ nằm phía ngực bên trái của hanbok. Nó là một dải lụa mỏng nên rất mềm mại, vì vậy người mặc có thể thắt những chiếc nơ theo ý mình một cách dễ dàng.
Có thể nói rằng cách mặc hanbok của người Hàn Quốc phản ánh chính con người Hàn Quốc: cẩn thận, tỉ mỉ và chính xác. Từ xưa tới nay cách mặc này vẫn không hề thay đổi.

 

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY